Trường Sa ngày đầu giải phóng

Để có quần đảo Trường Sa hiên ngang vững chãi giữa Biển Đông như ngày nay, cách đây 35 năm về trước, những người lính Trung đoàn 83 Công binh Hải quân (nay là Trung đoàn 83 Vùng 3 Hải quân) đã vượt sóng ra Trường Sa xây dựng đảo với một sứ mệnh mới. Mục tiêu xây dựng Trường Sa mạnh về phòng thủ, là trung tâm văn hóa-xã hội của quân và dân huyện đảo có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ hướng biển, vừa khẳng định với thế giới rằng quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam.
Truyền thuyết kể rằng vua An Dương Vương muốn xây thành Cổ Loa đánh giặc, nhưng bao nhiêu năm trời ròng rã cứ xây đến đâu thành lại đổ đến đó. Mãi đến khi Thần Kim quy trao cho nỏ thần thành mới xây xong. Vậy mà ngày nay giữa Trường Sa đầy bão tố, chẳng cần một sức mạnh thần linh nào cả, chỉ có bàn tay khối óc, nghị lực phi thường và tình yêu, quyết tâm giữ biển đảo, những người lính Trung đoàn 83 Công binh hải quân đã xây nên những loa thành vững vàng kiên trung nơi đầu sóng ngọn gió.

Hừng hực trong tim người lính

Sau 8 tháng kể từ ngày đất nước thống nhất, trước yêu cầu khách quan về nhà ở và hệ thống phòng thủ bảo vệ đảo, Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Hải quân tiến hành khảo sát xây dựng các nhà kiên cố trên quần đảo Trường Sa. Việc xây dựng phải bảo đảm 2 yếu tố cơ bản: Phải là nơi phòng thủ kiên cố có tầm quan sát rộng, tiện cho cơ động sẵn sàng chiến đấu và tránh nắng nóng; vừa tránh được ẩm thấp nước biển mặn, đón được hướng gió, bảo đảm mọi sinh hoạt công tác, huấn luyện, vui chơi của bộ đội. Nhận nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 83 Công binh Hải quân xác định “Dù khó khăn đến mấy, dù phải hi sinh đến tính mạng cũng cũng phải xây dựng bằng được nhà kiên cố lâu bền trên các cụm đảo Trường Sa, đó là mệnh lệnh từ trái tim người lính đối với nơi tuyến đầu Tổ quốc”. Thế là hàng ngàn khối đá, xi măng, sắt thép và vật liệu xây dựng được chuyển xuống tàu đưa ra đảo.

Những người lính Đoàn M31 Công binh Hải quân ra Trường Sa xây dựng như một sự tiếp nối sứ mệnh của những người đi trước. Họ đã gạt bỏ tất cả chuyện riêng tư, gia đình để ra đi mà không hề do dự. Dẫu vẫn hiểu ra đi có thể sẽ hi sinh, nhưng “tất cả vì Trường Sa thân yêu” sức trẻ xá chi và sẵn sàng dấn thân vì Tổ quốc.

Chuyến tàu đầu tiên mang tên Đại Khánh do Đại úy Lê Nhật Cát, nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 83 chỉ huy 70 cán bộ, chiến sĩ trẻ hành trình ra Trường Sa vào cuối tháng 4 năm 1976. Việc đi Trường Sa ngày ấy đồng nghĩa với cuộc chia ly sinh tử. Bởi đất nước mới trải qua chiến tranh, tàn tích đau thương chưa xóa nhòa, giờ lại phải ra Trường Sa xây dựng đảo-một thử thách lớn đối với những người lính công binh thời bình. Tàu Đại Khánh có trọng tải 75 tấn vượt sóng ra Trường Sa từ cảng T thuộc Cam Ranh Phú Khánh (nay là Khánh Hòa) lúc chiều tối, sau gần 4 ngày lênh đênh trên biển đã đến đảo Trường Sa Lớn. Gần 4 ngày vật lộn với sóng gió, 80% cán bộ chiến sĩ bị say sóng, nhiều chiến sĩ trẻ bỏ bữa. Hầu hết các chiến sĩ chưa biết Trường Sa là gì, chỉ hình dung trong đầu đó là một hòn đảo xa xôi và thiêng liêng. Trong tim họ luôn nghĩ, ra đảo Trường Sa để xây nhà là nhiệm vụ vinh quang, khí thế hừng hực trong tim và không hề ngần ngại.

Công việc đầu tiên của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 83 là thiết kế nơi ăn ở, nhanh chóng bắt tay vào xây đảo. Một bài toán vô cùng khó khăn đặt ra là làm gì để có nước ngọt, trong khi lượng nước ngọt đem theo tàu vơi dần. Thời điểm đó, Trường Sa không có nước ngọt, ngoài đảo Trường Sa Lớn và Song Tử Tây. Hai đảo này có bể chứa nước của quân đội Sài gòn trước đây để lại, mỗi bể chừng 6 khối. Để có nước ngọt nấu ăn, các chiến sĩ đã tận dụng tất cả những gì có thể, kể cả áo mưa rách, vỏ lon sữa bò của quân đội Sài gòn trước đây vất chỏng chơ trên cát để hứng nước mưa. Anh em đã sáng tạo đào hố, dùng xi măng trát quanh để chứa nước. Tuy nhiên lượng nước mưa hứng được cũng không đủ cho bộ đội sinh hoạt ăn uống, tắm giặt hàng ngày. Nước ngọt chỉ dùng nấu cơm, bộ đội tắm giặt bằng nước lợ. Sau một thời gian dài, da người nào cũng xù xì như lớp sừng bám. Việc ăn uống vô cùng khổ sở. Mỗi bữa ăn, cả đại đội chỉ có 4 hộp thịt hộp của Liên Xô, đổ thêm nước rồi nấu sôi, chan cơm. Anh em thèm một bữa rau xanh cháy cổ nhưng lấy đâu ra giữa Trường Sa chỉ có nắng gió cát và sỏi đá ngày ấy.
Đảo Tiên Nữ ngày nay
Ảnh: TL

Những “loa thành” đầu tiên

Công việc đầu tiên của của 70 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 83 Công binh Hải quân là xác định tọa độ đặt móng xây nhà theo tiêu chuẩn lâu bền. Đảo Trường Sa lớn những ngày đầu sau giải phóng hoang sơ và ngổn ngang đất đá. Tất cả công trình quân sự, nhà ở, hầm hào của quân đội Sài gòn trước đây để lại hầu hết bị cày xới, tàn phá. Vài ngôi nhà cấp 4 còn lại không có gì ngoài 4 bức tường mục nát, cháy xém.

Dưới cái nắng như thiêu như đốt, các chiến sĩ quần đùi áo lót ngày đêm vận chuyển vật liệu từ tàu vào đảo trên đá san hô. Quân bình mỗi chiến sĩ vác 200 hòn đá mỗi ngày. Ban ngày vận chuyển vật liệu, ban đêm đóng cọc dựng nhà che bạt ở tạm, cốt để bộ đội có chỗ ăn cơm và ngủ lấy lại sức. Nắng gió rát mặt, với chiếc mũ mềm sao vàng đỏ chói trên trên đầu, các chiến sĩ như những con ong chăm chỉ người vác đá, người khiêng xi, người trộn hồ, tung gạch. Sau gần một tháng thi công, ngôi nhà đầu tiên trên đảo Trường Sa Lớn hoàn thành cuối tháng 5 năm 1976. Loại nhà “sê-ri” thế hệ đầu tiên kết cấu nửa chìm nửa nổi, chiều cao 2,8 mét, trong đó 1,5 mét ẩn âm trong lòng đảo, lòng nhà rộng 4,5 mét theo hình lục giác, có các cửa sổ, tiện cơ động quan sát, hứng gió 4 phía. Cùng thời điểm ấy, một phân đội công binh hải quân Trung đoàn 83 tiến hành xây nhà trên đảo Song Tử Tây. Cũng như Trường Sa Lớn, cuộc sống sinh hoạt của các chiến sĩ ở đây vô cùng gian khổ, nhưng tinh thần ý chí xây đảo thì luôn hừng hực trong tim, không ai kêu ca phàn nàn hoặc chùn bước.
Trường Sa sau ngày giải phóng
Ảnh: TL

Song song với việc xây nhà, các chiến sĩ Trung đoàn 83 còn có nhiệm vụ quan trọng là mở thông 2 lạch để đưa tàu cặp vào mép đảo. Trong khi không có phương tiện khoan trong nước, bộ đội đã sáng tạo nghĩ ra cách dùng bộc phá đặt sát đáy san hô và châm ngòi nổ. Sức công phá dưới nước tuy có hạn chế nhưng so với sức người gấp trăm lần. Sau hơn 1 tháng lao động khẩn trương, 2 luồng ở đảo Trường Sa Lớn và Nam Yết được hoàn thành, luồng dài đến 300 mét, rộng 8 mét. Đá san hô từ nổ bộc phá được các chiến sĩ mò lên làm vật liệu xây đảo.

Sau căn nhà đầu tiên xây dựng ở đảo Trường Sa Lớn, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 83 Công binh Hải quân được Quân chủng giao nhiệm vụ tiếp tục khảo sát và xây nhà trên các đảo Nam Yết, Sinh Tồn, Song Tử Tây và Sơn Ca. Do nhiều công trình phải xây dựng khẩn trương, nên có phân đội công binh sau khi hoàn thành nhiệm vụ không về đất liền theo qui định, mà tiếp tục ở lại từ 2-3 năm để xây những công trình nhà ở các đảo khác. Có chiến sĩ 4 năm mới vào bờ một lần. Nhiều chiến sĩ được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng, nhiều chiến sĩ chuyển sang chế độ quân nhân chuyên nghiệp phục vụ quân đội lâu dài. Có chiến sĩ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được đi đào tạo Sĩ quan Công binh, sau đó trở lại đơn vị cũ, chỉ huy chiến sĩ ra Trường Sa xây đảo.
Mai Thắng
Cho đến hôm nay, lời thề của nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh khi đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phát biểu tại quần đảo Trường Sa ngày 7/5/1988 vẫn vang vọng mãi trong tim những người giữ biển.
“Chúng ta xin thề truớc hương hồn của tổ tiên, trước hương hồn của các cán bộ chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc. Xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: “Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu, bảo vệ bằng được Quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta.”
Đại tướng Lê Đức Anh
Advertisements

About Nắng xứ Quảng

Tôi chưa có nhiều tiền để biết rằng tiền không mang lại hạnh phúc!

Posted on 06/09/2011, in Xem-ngẫm-nghĩ and tagged . Bookmark the permalink. Chức năng bình luận bị tắt ở Trường Sa ngày đầu giải phóng.

Đã đóng bình luận.

%d bloggers like this: